|
|
BẢN THẢO THƯ MỤC VỤ 2009 |
|
|
|||
SỨ VỤ DẠY GIÁO LÝ I. LỜI MỞ 1. Năm thánh 2010 đã gần kề với việc kỷ niệm 50 năm thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam (1960 – 2010), đánh dấu sự trưởng thành của Hội Thánh Việt Nam sau 477 năm Tin Mừng đến với quê hương đất Việt (1533 – 2010). Dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh Việt Nam muốn nhìn lại mình trong 50 năm qua với tâm tình biết ơn và sám hối để canh tân chính mình, ngõ hầu bước sang thiên niên kỷ thứ ba này, Hội Thánh Việt nam mỗi ngày một phản chiếu trung thực hơn khuôn mặt của Đức Kitô cho quê hương dân tộc và cho thế giới. 2. Để chuẩn bị cho biến cố trọng đại trên, những năm vừa qua, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã mời gọi toàn thể Dân Chúa lắng nghe, suy niệm và sống Lời Chúa (2005) đặc biệt là Giáo dục tại gia đình (2008). Năm 2009 này, chúng toi6 muốn đề nghị mọi thành phần Dân Chúa nhìn lại Sứ vụ Dạy Giáo lý, bởi vì sứ vụ này liên kết mật thiết với toàn bộ đời sống Hội Thánh và là một trong những nhiệm vụ tối thượng của Hội Thánh đến độ ta có thể nói “Hội Thánh ngày mai tuỳ thuộc vào việc dạy Giáo lý hôm nay”. “Chính nhờ việc Dạy Giáo lý, Hội Thánh không những phát triển về địa dư và số lượng mà nhất là sự tăng trưởng bên trong và đáp ứng ý định cứu độ của Thiên Chúa” (x.DGL). Lịch sử Hội Thánh cho thấy: “Những thời kỳ Hội Thánh được canh tân cũng là những thời điểm nổi bậc về việc Dạy Giáo lý.” (x.GLHT 8). II. NỀN TẢNG SỨ VỤ DẠY GIÁO LÝ 3. Từ rất sớm, người ta đã dùng từ ngữ “dạy giáo lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Hội Thánh nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp nhân loại tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, ngõ hầu nhờ đức tin họ được sống nhờ danh Ngài, để giáo dục và dạy dỗ họ trong cuộc sống ấy và nhờ thế, xây dựng Nhiệm Thể Đức Kitô. (x.DGL 1; GLHT 4) “Dạy giáo lý là giáo dục đức tin cho trẻ nhỏ, thanh niên và người lớn, gồm đặc biệt là dạy giáo lý Kitô giáo một cách tổ chức và hệ thống, nhằm khai tâm họ vào cuộc sống kitô hữu sung mãn. (x.DGL 18; GLHT 5). 4. Sứ vụ Dạy Giáo lý bắt nguồn từ kế hoạch cứu độ của Chúa Cha, có khuôn mẫu là sứ vụ của Chúa Giêsu Kitô và được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, để làm cho mọi người trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa trong Con Một yêu dấu của Ngài và được hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa (x.1 Ga 1,1-3; Ep 1,3-14) Thiên Chúa muốn cho mọi người nhận biết chân lý và được cứu độ 5. Sứ vụ Dạy Giáo lý của Hội Thánh bắt nguồn từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Do lòng nhân hậu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người để con người được thông phần sự sống hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài. Thiên Chúa đã đến với con người, giúp con người tìm kiếm, nhận biết và yêu mến Ngài hết lòng. Thiên Chúa triệu tập mọi người đã bị tội lỗi phân tán để hợp nhất thành gia đình của ngài là Hội Thánh. Để thực hiện điều này, khi tới thời viên mãn, Ngài đã sai Chúa Con đến làm Đấng chuộc tội và cứu độ. Trong và nhờ Người Con ấy, Thiên Chúa kêu gọi loài người trở nên nghĩa tử trong Chúa Thánh Thần, và do đó, được thừa kế đời sống hạnh phúc của Ngài. (x.GLHT 1) Đức Giêsu Kitô, Lời của Thiên Chúa 6. “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1,1-2) Khuôn mẫu của Sứ vụ Dạy Giáo lý chính là sứ vụ của Đức Giêsu, Đấng là Lời tuyệt hảo và trọn vẹn của Chúa Cha. Toàn bộ cuộc đời của Đức Giêsu Kitô là mặc khải về Chúa Cha: từ lời nói, việc làm, từ sự im lặng cho đến những đau khổ Ngài chịu, từ lối sống cho đến những lời Ngài giảng dạy, Đức Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”, (Ga 14,9), và Chúa Cha nói: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Ngài” (Lc 9,35). (x.GLHT 516) 7. Dạy Giáo lý là giúp người ta khám phá nơi con người của Đức Kitô tất cả ý định muôn đời của Thiên Chúa. Đó là tìm hiểu ý nghĩa các hành động và lời nói của Đức Kitô, cùng những dấu chỉ Ngài thực hiện” (x.DGL 5). Mục đích tối hậu của việc Dạy Giáo lý là “làm cho mọi người chẳng những tiếp xúc mà còn thông hiệp thân mật với Đức Giêsu Kitô: chỉ một mình Ngài mới dẫn ta đến tình yêu Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và cho ta tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh” (x.GLHT 426) 8. “Trong việc Dạy Giáo lý, ta giảng dạy về Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể và Con Thiên Chúa; tất cả những điều khác được giảng dạy quy chiếu về Ngài; chỉ một mình Đức Kitô giảng dạy, còn bất cứ ai giảng dạy đều phải giảng dạy như phát ngôn viên của Ngài, để Đức Kitô dạy qua miệng lưỡi họ…..mọi giáo lý viên đều phải áp dụng cho mình lời nói nhiệm mầu của Đức Giêsu: “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi” (Ga 7,16). (x.GLHT 427) Chúa Thánh Thần, linh hồn của sứ vụ Dạy Giáo lý 9. Để diễn tả sứ vụ của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh, Chúa Giêsu đã dùng những lời đầy ý nghĩa: “Ngài sẽ dạy các con mọi sự, và nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con.” Và Chúa Giêsu nói thêm: “Khi Thần Chân Lý đến, Ngài sẽ hướng dẫn các con đến tất cả chân lý…Ngài sẽ công bố cho các con những gì sẽ xảy đến.” (Ga 16,13) Như thế, Chúa Giêsu hứa Thần Chân Lý cho Hội Thánh và cho từng Kitô hữu như một vị Thầy nội tâm, là Đấng loạt động cách sống động trong lương tâm và tâm hồn, làm cho mọi người hiểu điều người ấy đã nghe nhưng chưa có khả năng hiểu. Thánh Augustinô nói về điều này như sau: “Ngay cả bây giờ Chúa Thánh Thần dạy các tín hữu tuỳ theo khả năng tâm linh của mỗi người. Và Ngài dốc lòng họ bằng những ao ước lớn lao hơn tuỳ theo sự tiến bộ của mỗi người trong đức ái, là nhân đức làm cho người ấy yêu điều người ấy đã biết và ao ước điều người ấy chưa biết.” Hơn nữa, Chúa Thánh Thần cũng có sứ vụ biến đổi các môn đệ thành nhân chứng cho Đức Kitô; “Ngài sẽ làm chứng về Thầy; và các con cũng là nhân chứng. ”Do đó, việc dạy giáo lý, tức là sự tăng trưởng trong đức tin và vững vàng trong đời sống Kitô hữu cho tới sung mãn, là một công trình của Chúa Thành Thần, công trình mà một mình Ngài có thể khơi dậy và nuôi dưỡng trong Hội Thánh . (x.DGL 71) Hội Thánh tiếp nối sứ vụ Chúa Giêsu Kitô. 10. Sau khi thực hiện sứ mạng Chúa Cha trao phó, trước khi về trời, Chúa Giêsu đã truyền lệnh cho các mô đệ: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy d0ã truyền cho anh em.” (Mt 28, 19-20) Để giúp họ chui toàn sứ mạng này, Chúa Giêsu hứa sẽ xin Chúa Cha gửi Chúa Thành Thần xuống: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là nhân chứng của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 2,42) Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, sau bài giảng của thánh Phêrô, khoảng ba ngàn người đã trở lại và chịu phép Rửa. Cộng đoàn Hội Thánh đầu tiên, theo như sách Công vụ Tông Đồ mô tả, “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.” (Cv 2,42) Như vậy, việc dạy Giáo lý đã là một trong những hoạt động quan trọng của Hội Thánh ngay từ đầu. Hội Thánh không ngừng dốc mọi tâm lực để chu toàn sứ vụ hàng đầu này của mình. Mọi tín hữu đều có bổn phận truyền đạt kho tàng đức tin mà mình đã lãnh nhận, bằng lời rao giảng, bằng đời sống yêu thương, và bằng các cử hành phụng vụ và cầu nguyện. 11. Những thời kỳ Hội Thánh được canh tân cũng là những thời điểm nổi bật về việc Dạy Giáo lý. Chẳng hạn như trong thời các giáo phụ, tiếp theo là Công đồng Trentô với sách Giáo lý Rôma. Mới đây nhất là công đồng Vaticanô II (x.GLHT 8-9) Sau Công đồng Vaticanô II, việc Dạy Giáo lý được quan tâm cách đặc biệt. Các văn kiện Toà thánh thời gian gần đây cho thấy rõ điều nầy1. Những văn kiện trên đã thúc đẩy và định hướng đường hướng canh tân việc Dạy Giáo lý khắp nơi trên thế giới. Hội Thánh Việt Nam trong những năm vừa qua cũng đã có những hoạt động hỗ trợ cho việc dạy giáo lý: từ tổ chức, điều hành cho đến việc biên soạn các bộ sách Giáo lý phù hợp với từng lứa tuổi, từng môi trường và đào tạo Giáo lý viên. PHẦN 2: VIỆC DẠY GIÁO LÝ TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐÃ QUA Kinh nghiệm 50 năm qua + Các giáo phận phía Bắc: 12. Thời kỳ khó khan và kinh nghiệm: trong giai đoạn 1960 – 1975 có rất nhiều khó khăn thử thách: Về nhân sự: các chủng viện bị đóng cửa, nên số linh mục rất ít và thường là cao tuổi, việc đi lại của các linh mục cũng bị giới hạn tối đa. Tình trạng các dòng tu cũng bị hạn chế như thế nên thiếu các tu sĩ. Người dạy giáo lý là các ông biện, ông quản bà quản bị cản trở hay ngăn cấm dạy giáo lý. Về tài liệu: rất hiếm sách vở tài liệu giáo lý, ngay cả cuốn giáo lý truyền thống là Bổn Lẽ Cần và sách kinh truyền thống cũng rất hiếm vì không được in ấn. Nhiều nơi ông biện, ông quản bà quản đọc trước từng câu rồi học viên lập lại cho đến khi thuộc lòng. 13. Trong hoàn cảnh khó khăn này, Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn để các cộng đoàn dân Chúa để lại cho chúng ta những kinh nghiệm rất quí báu về sống, nuôi dưỡng và phát triển đức tin của mình qua hai môi trường sau đây: Thứ nhất đức tin được gìn giữ, phát triển và nuôi sống bằng học thuộc lòng những kinh truyền thống và giáo lý hỏi/ đáp trong sách Bổn Lẽ Cần. Đặc biệt các kinh truyền thống có những nội dung và bài giáo lý sâu sắc, hình thức có nhịp điệu dễ đọc, dễ nhớ. Địa điểm là nhà thờ nhà xứ và thời gian để tập trung học kinh bổn thường là vào tối mùa chay hay thời gian lễ các thánh, các linh hồn để học bà thi kinh bổn một cách long trọng trong dịp lễ Phục sinh hoặc những dịp chầu Lượt của giáo xứ. Thứ đến gia đình cũng là môi trường rất quan trọng để sống và truyền bá đức tin. Mỗi tối và sáng cha mẹ con cái qui tụ nhau trước bàn thờ trong gia đình. Chủ gia đình làm dấu thánh giá xướng kinh. Khởi đầu là kinh nguyện Chúa Thánh Thần, sau đó đọc tuần tự các kinh hằng ngày, vừa để cầu nguyện, vừa để tập cho con cháu thuộc kinh. Những kinh hằng ngày có nội dung giáo lý sâu sắc và những nhắc bảo thực tế làm cho người đọc đọc đến đâu nhớ đến đó những điểm đức tin đòi buộc và bổn phận phải thi hành. Như thế các giờ kinh sáng, tối trong gia đình là dịp để cầu nguyện đồng thời giúp học hỏi và phát triển đức tin cho con cái và lớp trẻ. Có nhiều trường hợp các dự tòng chỉ tham dự giờ kinh tối trong gia đình công giáo để học đạo và nắm vững được những điều cốt yếu đức tin trong đạo rồi đi đến việc quyết định gia nhập Hội Thánh và sống đức tin công giáo cách vững mạnh. 14. Sau khi đất nước thống nhất, thông thường giữa Nam Bắc tạo nên sự giao lưu về mọi mặt. Các tín hữu phía Bắc tiếp xúc với các cộng đoàn và sinh hoạt nhất là sinh hoạt phụng vụ và giáo lý ở phía Nam. Họ ngỡ ngàng nhưng cũng nhanh chóng học tập để có thể giúp đỡ quê hương khi trở về. Riêng về giáo lý viên để về hoạt động giáo lý. Có điều đáng quan tâm cho chúng ta là chính môi trường khó khăn đã tôi luyện các tín hữu cách sâu sắc và trung tín trong đức tin. Thường các tín hữu này khi tìm tài liệu có Imprimatur, có phép của giáo quyền không. Điều đó chứng tỏ họ rất cẩn thận bảo vệ đức tin cho mình và cho mọi người. Từ đây thường xuyên, việc đào tạo Giáo lý viên của các giáo phận miền Bắc được thực hiện bằng cách gửi giáo lý viên vào miền Nam để học tập và mô phỏng các phương pháp đào tạo, hoặc mời các chuyên viên đào tạo của các giáo phận miền Nam ra giúp đỡ. + Các giáo phận phía Nam 15. Từ xưa cho đến khi thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam (1960) và cho đến năm 1975, các giáo phận miền Nam có hai môi trường dạy giáo lý: Các trường trung tiểu học công giáo và cá giáo xứ. Các trường học công giáo do giáo xứ hay các hội dòng điều hành đều có giờ dạy giáo lý. Các trường công giáo vừa dạy để mở mang kiến thức về giáo lý cho các học sinh đồng thời còn tổ chức cho các học sinh lãnh nhận các bí tích khai tâm kitô giáo như xưng tội, rước lễ lần đầu, Thêm Sức Rước lễ trọng thể (Bao Đồng). Việc dạy giáo lý ở các trường trung và tiểu học nhất là trường của các hội dòng bài bản và thích hợp với học sinh vì dạy có phương pháp và sư phạm. Tại các giáo xứ việc dạy giáo lý có thể được thực hiện hai cách hỗ trợ nhau sau đây: Thứ nhất các lớp giáo lý chuẩn bị lãnh nhận bí tích khai tâm kitô giáo: Xưng tội rước lễ lần đầu và Thêm Sức do giáo xứ tổ chức. Các lớp học này thường được thực hiện vào mùa hè. Các học sinh đến tuổi chuẩn bị Xưng tội rước lễ lần đầu (từ 7 đến 8 tuổi) và Thêm Sức (từ 9 đến 11 tuổi) sẽ được tập trung học giáo lý trong mùa hè, được chuẩn bị để lãnh nhận các bí tích trên vào cuối mùa hè kịp cho các em bắt đầu năm học mới. Môi trường thứ hai ở các giáo xứ là các hội đoàn công giáo nhất là những hội đoàn trẻ: Hùng Tâm Dũng Chí, Thiếu nhi Thánh Thể, Thanh sinh công, Thanh lao công, hướng đạo công giáo v.v….Những đoàn thể này theo nội quy có chương trình học giáo lý. Việc học giáo lý được lồng vào sinh hoạt rất thích hợp cho thiếu nhi và giới trẻ. 16. Những khó khăn và kinh nghiệm (1975 – 1993). Do hoàn cảnh xã hội mới, hoạt động giáo lý bị hạn chế: các trường Công giáo bị trưng dụng, các đoàn thể công giáo không được hoạt động, tình trạng phần nào giống các giáo phận phía Bắc sau năm 1954: Thiếu linh mục, thiếu các tu sĩ, thiếu giáo lý viên, giáo dân bị thôi thúc đi vùng kinh tế mới, sách vở tài liệu giáo lý cũng bị hạn chế, vì không được in ấn. Các chủng viện bị đóng cửa, nên số linh mục ít dần, việc đi lại và hoạt động của các linh mục rất bị giới hạn. 17. Trong tình hình như thế, lúc đều sinh hoạt giáo lý có vẻ lúng túng, vì trước đây một phần lớn công việc dạy giáo lý là do các trường tiểu học công giáo và các đoàn thể, nay các giáo xứ chưa được chuẩn bị về nhân sự, về cô sở vật chất lại phải đảm nhận tất cả công việc này. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh khó khăn mọi mặt như thế mà Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn để Dân Chúa tìm ra hướng đi cho việc dạy giáo lý. Về nhân sự và điều hành: các tu sĩ và giáo dân không còn đảm cộng việc giáo dục ở các trường học công giáo nữa đã hăng hái tham gia hoạt động giáo lý. Những khoá học Kinh Thánh đều đặn được tổ chức do các linh mục, tu sĩ điều hành phụ trách mang lại những kết quả rất tốt cho việc canh tân củng cố đời sống đức tin cho Dân Chúa theo tinh thần Công Đồng Vaticanô II. Số học sinh giáo lý tăng lên vượt trội: ý thức được việc chuẩn bị cho con cái sống và bảo vệ đức tin trong tình hình mới, các phụ huynh đã thúc giục con cái đến các lớp giáo lý ở các giáo xứ. Các linh mục quản xứ đối diện với một tình hình mới đầy khó khăn nhưng cũng đầy ngạc nhiên vì nhiệt thành của giáo dân, sự hăng say của giới trẻ và học sinh, vì thế các ngài dấn thân hơn cho việc dạy giáo lý. Các giáo xứ bắt đầu nghĩ đến việc xây dựng các phòng học giáo lý. Từ đây nhiều giáo giáo xứ đã xây dựng trường giáo lý. Bên cạnh nhà thờ mới luôn luôn có các phòng học giáo lý. 18. Sau khi toà thánh phổ biến sách giáo lý Hội Thánh công giáo (1992) thì hoạt động giáo lý tại Việt Nam bắt đầu khởi sắc với việc biên soạn các bộ giáo lý2 và tổ chức công việc dạy giáo lý có nề nếp và quy củ hơn. Sở dĩ có sự khởi sắc này là nhờ sự ra đời của các văn kiện toà Thánh về mục vụ giáo lý, trong đó phải kể đến Tông huấn Dạy Giáo lý của đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II 1979, sách Giáo lý Giáo Hội Công giáo năm 1992 và Hướng Dẫn Tổng Quát về việc dạy giáo lý 1997. Từ nay sự chia sẻ tài liệu, nhân lực, tài lực và kinh nghiệm về sinh hoạt giáo lý của các giáo phận và các hội dòng rất nhịp nhàng tạo thuận lợi cho việc dạy giáo lý khắp nơi. HIỆN TÌNH VIỆC DẠY GIÁO LÝ TẠI VIỆT NAM Thuận lợi 19. Toà thánh đã ban hành các văn kiện hướng dẫn chi tiết và cụ thể về sứ vụ dạy giáo lý cho Hội Thánh toàn cầu. (x. (1)). HĐGMVN theo hướng dẫn của toà thánh cũng đã thiết lập Uý Ban này đang làm việc để liên kết mời gọi sự cộng tác của nhiều thành phần Dân Chúa nhằm đẩy mạnh việc giảng dạy giáo lý. Cũng trong chiều hướng này Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin đã thành lập ban giáo lý toàn quốc và ban giáo lý các tỉnh để khơi gợi tổ chức và điều hành sinh hoạt giáo lý. Một số giới trẻ và phụ huynh vẫn quan tâm đến đời sống đức tin và nhiệt thành giúp đỡ những người khác sống đức tin. Một tài sản rất quí báu của Hội Thánh Việt Nam đó là khoảng hơn 50.000 giáo lý viên thiện nguyện ở độ tuổi 25 đến 60 tuổi, phần lớn trong số này là giáo dân. Một điểm cũng rất đáng chú ý đó là sự thiện cảm của người Việt Nam đối với các chức sắc các tôn giáo, nhất là đối với các linh mục, tu sĩ công giáo. Khó khăn 20. Với phương tiện truyền thông nhanh nhạy, những cuộc khủng hoảng về kinh tế, về xã hội, về đạo đức của con người, về những gương xấu trong xã hội và Giáo Hội, nạn phá thai, về sự tan rã của nhiều gia đình…đã nhanh chóng được phổ biến khắp nơi với những bài bình luận, những hình ảnh sống động gây ảnh hưởng rất lớn và nhiều nơi áp đảo dư luận làm cho nhiều người nản chí và giới trẻ khó phân biệt đâu là thật, đâu là dối trá. 21. Sự việc toàn cầu hoá và di dân đã ảnh hưởng trực tiếp đến các làng quê và xứ đạo có truyền thống lâu đời. Nhiều giáo xứ trước đây nhờ các thành viên trẻ hoạt động rất năng nổ trong mọi sinh hoạt mục vụ, nay vắng vẻ vì phần đông giới trẻ đi đến các thành phố lớn, các khu công nghiệp hoặc ra nước ngoài để tìm việc làm. Tất cả những thay đổi tạo nên những khó khăn trên mới chỉ là khởi đầu của một xã hội đang biến đổi, chắc chắn nó chưa dừng lại và những biến thái của nó sẽ ảnh hưởng sâu rộng nhiều đến từng cộng đồng, từng gia đình và cá nhân. Một não trạng mới đang hình thành nơi giới trẻ đó là con người và cuộc sống chỉ có giá trị làm ra được nhiều tiền. Và thực tế giới trẻ thấy tiền có thể giải quyết hết mọi việc. Tiền bạc giải quyết được các nhu cầu con người, tạo cho con người cuộc sống dễ chịu, có điều kiện cho con người hưởng thụ mọi thú vui của cuộc sống. Não trạng này làm cho một số người trẻ hoài nghi các giá trị nhân bản, luân lý và đời sống đức tin. Họ coi tiền bạc, lợi nhuận là tiêu chuẩn đánh giá mọi việc và dễ dàng đảo lộn các giá trị. 22. Trong tình hình như thế việc dạy giáo lý gặp hai khó khăn lớn: Thứ nhất thiếu giáo lý viên, trước đây việc dạy giáo lý do các thành viên trẻ đảm nhận, nay phần đông giới trẻ đi làm, đi học hoặc vì sinh sống mà đi đến những nơi khác không thể tiếp tục công việc phục vụ như trước. Đặc biệt các xứ đạo vùng quê những người có khả năng, có học thức cao đều bỏ làng quê tìm đến các thành phố làm việc. Thứ đến điều kiện sống của các học sinh, học viên ngày nay cũng rất khó đến lớp giáo lý. Lý do các em phải học rất nhiều, học ban ngày, học buổi tối và học cả ngày Chúa nhật. Một lý do khác nữa là phụ huynh: nhiều phụ huynh chỉ quan tâm đến việc học văn hoá và việc làm tương lai của con cái nên rất lơ là với việc học giáo lý. Nhiều trường hợp phụ huynh miễn cho con cái khỏi đi học giáo lý để có giờ lo học văn hoá. Ngoài ra nạn tục hoá và đời sống thực dụng cũng đã ảnh hưởng đối với một số người công giáo. Nhiều gia đình trẻ thích sống biệt lập không muốn giao tiếp với ai, không muốn mở cửa nhà cho ai vào. Thói quen của bố mẹ họ trước đây như thăm viếng hàng xóm, giao lưu, đọc kinh liên gia, liên ái nay không còn nữa. Họ muốn cuộc sống cuộc sống riêng gia đình mình, không muốn phiền toái tiếp đón hay thăm nom. Ngược lại cũng có những gia đình trẻ thích ồn ào lễ hội, dạ hội hoặc mở tiệm kinh doanh phục vụ giới trẻ… tạo nên lối sống “xô bồ” và trong những hoàn cảnh như thế việc sống đạo, việc chăm lo học giáo lý thật khó. PHẦN 3 ĐỊNH HƯỚNG VIỆC DẠY GIÁO LÝ TẠI VIỆT NAM 23. Định hướng cho việc giảng dạy Giáo lý của Hội Thánh Việt Nam trong giai đoạn sắp tới sẽ có nhiều việc phải làm: như đào tạo giáo lý viên, biên soạn sách giáo lý cho dự tòng…tất cả những chuẩn bị đó nhằm giảng dạy giáo lý, đào tạo học sinh, học viên trở nên môn đệ của Chúa Kitô. Để kịp thời đáp ứng những đòi hỏi thực tế của thời đại, tất cả những công việc này phải làm song song với nhau vì xã hội Việt Nam và xu hướng chung cả thế giới đang biến đổi sâu rộng và nhanh chóng. Việc biên soạn các tài liệu, quy tụ đội ngũ giảng dạy tương đối có thể làm được ở bất kỳ thời điểm nào. Nhưng hai công việc quan trọng mà chúng ta bàn tới sau đây thì đầy thách đố và khó khăn: Đào tạo Giáo lý viên (GLV) Đào tạo GLV là công tác cấp thiết vì: 24. Do điều kiện của giáo dân Việt Nam, GLV hiện nay cần phải được đào tạo để họ vượt qua những giới hạn và giúp họ đảm nhận việc giảng dạy giáo lý cách hiệu quả hơn. Đa số GLV Việt Nam là giáo dân, sự hiểu biết của họ về các mặt như giáo lý, kinh thánh, đường hướng linh đạo của giáo lý viên, về nhân bản, các tri thức phổ thông về khoa học nhân văn, và sư phạm giáo lý…rất giới hạn. Thêm vào đó người Việt Nam ưa chuộng hình thức, những dịp vui buồn trong gia đình, gia tộc hay cộng đồng đều được biểu lộ bằng nhiều hình thức bên ngoài. Những hình thức này làm tăng thêm vẻ long trọng, hoành tráng của việc cử hành và người ta bằng lòng với những hình thức như thế. Đời sống đức tin của người kitô hữu Việt Nam trong đó có các GLV ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng này. Dần dà người tín hữu có thói quen mà không cần quan tâm đến ý nghĩa và tâm tình bên trong. Về phía học viên trình độ văn hoá, tri thức và sự hiểu biết các mặt ngày càng được nâng cao. Trong số những học sinh học viên này có những đầu óc rất nhanh nhạy và sắc bén chắc chắn có nhiều thắc mắc đặt ra cho GLV. Ngoài ra học sinh, học viên ngày nay rất đa dạng và thuộc nhiều lứa tuổi. Hội Thánh muốn đào tạo tất cả mọi người đến với mình thành môn đệ Chúa Kitô. Đặc biệt xã hội và mạng lưới truyền thông rất mạnh, rất nhanh, tạo nên nhiều vấn nạn, nhiều thắc mắc về những vấn đề nóng bỏng như về luân lý, về đạo đức sinh học…mà người GLV phải biết để có thể giải đáp và hướng dẫn học sinh, học viên theo cái nhìn đúng đắn của Hội Thánh. (x.HĐTQ 233-2510) Tất cả những lý do trên và còn nhiều vấn đề khác cũng như sự hướng dẫn và thôi thúc của Hội Thánh đòi hỏi việc phải gấp rút tổ chức đào tạo GLV sao cho họ trở nên tông đồ của Chúa Kitô, trở nên nhân chứng của Ngài trong thời đại này (x.HD GLV; HDTQ 234) 25. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta bắt đầu từ đâu? Trước tiên mỗi giáo phận hãy bắt đầu công việc của mình bằng cách hình thành trường hay trung tâm đào tạo Giáo Lý Viên. Người hay nhóm phụ trách trung tâm này sẽ nghiên cứu, lên kế hoạch đào tạo GLV cách cụ thể, chi tiết và khả thi hợp với hoàn cảnh của địa phương mình. Và sau khi được đức giám mục giáo phận chấp thuận thi triển khai công việc với lòng nhiệt thành và tin tưởng vào ơn Chúa Thánh Thần (x.HDTQ 266-267) Nếu nhiều giáo phận hay tất cả các giáo phận đã tổ chức được trung tâm đào tạo GLV của mình, thì việc tiến tới một trung tâm chung ở từng vùng hay giáo tỉnh hoặc là trung tâm đào tạo GLV cho toàn quốc có thể thực hiện được (x.HDTQ 248-252) Nếu tất cả các giáo phận đồng tình thành lập các trung tâm đào tạo như trên và hoạt động đều tay việc chuẩn bị nội dung đào tạo và đội ngũ giảng dạy để phục vụ tại trung tâm hoặc giảng dạy lưu động là chuyện rất khả thi, bởi lẽ chúng ta có nhiều nhà chuyên môn và nhiều người nhiệt thành có khả năng phục vụ các tổ chức này. 26. Cuối cùng là vấn đề kinh phí để điều hành và hoạt động cho trung tâm. Nếu đặt vấn đề giáo lý quan trọng, chúng ta phải có cái nhìn khác hơn quan niệm cũ: Từ xưa nay người công giáo Việt Nam kể cả các linh mục coi việc dạy và học giáo lý là điều tất yếu, học giáo lý là một hoạt động quen thuộc như kinh sáng, kinh tối, nhiều ít tất nhiên phải có. Có điều kiện ta làm nhiều, hạn hẹp ta cũng phải làm chút ít. Đặc biệt các lớp khai tâm kitô giáo thế nào cũng phải có để con em được xưng tội rước lễ Và Thêm Sức (HD GLV 32; HDTQ 233) Việc đào tạo thời nay chắc phải khác xưa làm sao để các học sinh, học viên trở nên môn đệ của Chúa Kitô và có thể trung tín với Ngài giữa một xã hội đầy thử thách và cám dỗ loại bỏ niềm tin tôn giáo. Thực tế chúng ta có chủng viện để đào tạo các linh mục, có nhà thử, nhà tập, kinh viện để đào tạo tu sĩ. Nhưng để đào tạo giáo dân, và nhất là tông đồ giáo dân chúng ta chưa có gì bao nhiêu. Vậy để điều hành và hoạt cho một trung tâm đào tạo GLV chắc không tốn kém nhiều như những nơi đào tạo linh mục và tu sĩ, vì thế cũng cần tổ chức và duy trì hoạt động cần thiết cho những trung tâm này. (HDTQ 234). Giảng dạy giáo lý 27. Vấn đề tiếp theo là giảng dạy giáo lý để đào tạo môn đệ Chúa Kitô. Việc đào tạo này nhắm đến những hướng sau đây: Thứ nhất cần chú ý hơn đến nến tảng nhân bản, đào tạo lương tâm, đào tạo nhân sinh quan kitô giáo. Trong thư mục vụ 2008 bàn về giáo dục gia đình kitô giáo, HĐGMVN đã nêu lên những quản ngại về các khủng hoảng đang xảy ra nơi các gia đình. Như nạn bạo hành, ly dị, người già không có người chăm sóc, trẻ em bị bỏ rơi, nạn phá thai3…và đáng buồn thay nhiều khi những sự việc đó cũng đang xảy ra nơi một số gia đình kitô hữu. Tất cả những tệ nạn trên nói lên thực tế con người sống thiếu những đức tính nhân bản cần thiết. Những đức tính này còn phải tựa trên nếp sống lành mạnh của người kitô hữu để tạo nên cuộc sống an bình hạnh phúc cho mình và cho mọi người. Thứ đến giảng dạy giáo lý phải đào tạo học sinh và học viên đạt đức tin trưởng thành. Đức tin trưởng thành làm cho người tín hữu sống đức tin là truyền giáo trong môi trường của mình. 28. Tuy nhiên để có thể hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng trên đây, chúng ta cần đến sự quan tâm cộng tác của nhiều người. Vai trò của Gia đình 29. Trước tiên là gia đình, gia đình là trường học giáo lý đầu tiên của các thành viên trẻ và không có ai hay nơi nào thay thế được. Do lối sống đức tin sống động lành mạnh của cha mẹ, trải qua thời gian cũng như nhiều biến cố trong cuộc sống, con cái học được cách sống đạo. Như vậy việc dạy giáo lý trong gia đình đi trước, để từ đó tiếp tục đồng hành và phong phú hoá mọi hình thức dạy giáo lý khác. (DGL 68; HDTQ 226) Vai trò của Giáo xứ 30. Thứ đến là giáo xứ, tông huấn dạy giáo lý và sách Hướng Dẫn Tổng Quát việc dạy giáo lý nhấn mạnh: Hội Thánh muốn mọi luá7 tuổi đều phải được chăm sóc về giáo lý. Đặc biệt phải có nhiều sáng kiến giúp đào tạo cho các tín hữu có được lương tâm và bản lĩnh kitô giáo để tung tín hiếu thảo với Chúa và làm chứng nhân tình yêu và ơn cứu độ của Ngài cho mọi người. (DGL 67; HDTQ 158; 167, 168; 172-188) Vai trò của các linh mục 31. Vai trò của các linh mục: hoạt động dạy giáo lý trong gia đình hay giáo xứ chỉ có thể thực hiện được nhờ sự quan tâm nhắc bảo và hướng dẫn của các linh mục nhất là linh mục quản xứ. Cộng đồng Vaticanô II gọi các ngài là thầy dạy đức tin và ĐGH Gioan Phaolô II cắt nghĩa thêm: “Không có cách nào tốt hơn cho các con để thành những thầy như thế là dồn hết nỗ lực tốt nhất để làm cho cộng đồng của các con không bỏ sót bất cứ điều gì cần thiết cho nỗ lực dạy giáo lý có tổ chức vững chắc và định hướng đúng đắn.” (DGL 64) Sự cộng tác của các Hội Dòng 32. Vai trò của Hội Dòng: các Hội Dòng tham gia vào việc huấn luyện, đào tạo và biên soạn tài liệu cho việc dạy giáo lý. Suốt mấy trăm năm, các tu sĩ nam nữ đã đóng góp ấy càng cần thiết hơn nhất là đối với những vùng thiếu giáo lý viên. Sự quảng đại của các Dòng luôn được Thiên Chúa bù đắp xứng đáng, cụ thể là các Hội Dòng vẫn đã, đang và tiếp nhận các ơn gọi tốt xuất thân từ các lớp giáo lý ở các giáo xứ. (DGL 65; HDTQ 228-229). Ngỏ lời với các học sinh và học viên giáo lý 33. Sau cùng, chúng toi6 các giám mục đặc biệt ngỏ lời với các con, anh chị em dự tòng, các học viên giáo lý, các bạn trẻ, thiếu niên và nhi đồng đang tuổi học giáo lý. Chúa Giêsu đặc biệt yêu thương anh chị em và các con. Chúa mong ước anh chị em và các con học hiểu giáo lý Tin Mừng để nhận biết chúa, yêu mến Chúa và theo chúa cách hào hùng, vui tươi và quảng đại. Thật đáng khen khi đa số anh chị em và các con, dù hoàn cảnh khó khăn, vẫn chuyên chăm học giáo lý. Giáo Hội hy vọng nhiều nơi anh chị em và các con. Nhờ chuyên chăm học giáo lý, anh chị em và các con sẽ trở thành chứng nhân của Chúa. KẾT Kết thúc thư này, chúng tôi xin ký thác công cuộc dạy giáo lý của Dân Chúa tại Việt Nam nói chung cũng như của mỗi giáo xứ nói riêng cho Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse. Xin hai Đấng chăm sóc việc đào tạo con em chúng ta như xưa đã chăm sóc lo lắng cho trẻ Giêsu tại Nadarét. Xin hai Đấng bầu cử cùng Chúa Thánh Thần để tuôn đổ xuống trên mỗi người chúng ta lòng nhiệt thành thiết tha cho vinh danh Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn. Nguyện xin Thiên Chúa Ba Ngôi chúc lành cho tất cả anh chị em và các con. (1) – Sách Hướng Dẫn Tổng Quát Dạy Giáo Lý của Bộ Giáo sĩ năm 1971. |
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tgmvl |